Tọa đàm khoa học: “Nghiên cứu Nhân học đương đại – Phương pháp và ứng dụng thực tiễn”

Nhân học và Y học có sự hỗ trợ lẫn nhau, như việc nhân học nghiên cứu thực hành Y học, xem nó tác động như thế, phản ánh lại cho các nhà nghiên cứu Y học hiểu rõ, điều chỉnh cho phù hợp, Nhân học trở thành cầu nối giữa Y học và cộng đồng.

Sáng ngày 6/5/2015 tại phòng D202, Trường Đại học KHXH&NV đã tổ chức Tọa đàm khoa học: “Nghiên cứu Nhân học đương đại – Phương pháp và ứng dụng thực tiễn”, do TS. Marina Marouda (Đại học Sussex, Anh) trình bày. TS. Marina Marouda trình bày tổng quan nghiên cứu Nhân học trên thế giới, trong đó nhấn mạnh đến phương pháp và các mặt ứng dụng của nghiên cứu Nhân học - Y sinh, nhất là việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu trong đề tài của tác giả tại Việt Nam. Đây được xem là hướng nghiên cứu mới của Nhân học tiếp cận các ngành khoa học về Y học trong việc phục vục con người trong cuộc sống đương đại.


TS. Marina Marouda trình bày và TS. Trương Thị Thu Hằng (K. Nhân học) chuyển ngữ.Ảnh:Việt Thành

Đến tham dự buổi tọa đàm khoa học có: ThS. Trần Thị Kim Anh – Phó Trưởng phòng QLKH-DA; PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân, TS. Đặng Thị Kim Oanh – Phó Trưởng khoa Nhân học, TS. Trương Thị Thu Hằng – Khoa Nhân học; TS. Phan Anh Tú – Khoa Văn hóa học cùng các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên Khoa Nhân học cùng tham dự.

Nhân – Y sinh là gì? Một nghiên cứu Nhân học đương đại 

Những năm gần đây, xuất hiện một ngành học mới về sự sống, là sự kết hợp giữa Nhân học và Y học nhằm xây dựng lại những hiểu biết về sự sống không phải chỉ là virus, gien là quan trọng mà còn là văn hóa, lịch sử của con người. Điều này được chỉ ra trong nghiên cứu của Bronislaw Malinowski tại quần đảo thuộc Melanesia để nghiên cứu văn hóa xứ này, tại đây, ông thấy rằng người dân không có kiến thức về Y học nhưng từ nghiên cứu về văn hóa, ông lại chỉ người dân bản địa có những ý thức về sự sống và cái chết. Chính vấn đề này, giúp cho Y học có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa Y học và xã hội, mối quan hệ đó giúp cho con người hướng đến việc phát triển cuộc sống.

Việc cho ra đời cừu Dolly bằng biện pháp sinh sản vô tính, một kỷ nguyên mới cho sinh sản vô tính, đã gây nên tranh cãi lớn về mặt đạo đức và xã hội, từ đây việc ứng dụng sinh sản vô tính lên con người sẽ như thế nào?, sau đó với việc Đạo luật nhân bản người năm 2001 chính thức có hiệu lực nhằm chữa cháy, được quốc hội Anh phê chuẩn “siêu tốc,” vì chính phủ không có công cụ kiểm soát phôi người nhân bản. Trước đó, Louise Joy Brown chào đời vào ngày 25/7/1978, một em bé được sinh theo phương pháp sinh sản vô tính, khi con người được sinh ra từ ống nghiệm, các nhà Nhân học đã bắt đầu chú ý đến hiện tượng này với câu hỏi đặt ra là không những con người không còn được sinh ra bình thường mà còn liên quan đến các vấn đề thân tộc, văn hóa, đặc biệt là mối quan hệ của con người trong xã hội như thế nào. 


Buổi tọa đảm thu hút được các giảng viên, nhà nghiên cứu, NCS đến trao đổi. Ảnh: Việt Thành

Việc nghiên cứu Y sinh dưới góc độ xã hội chỉ ra rằng việc sinh sản vô tính có tầm quan trọng trong cuộc sống của con người như thế nào, đó cũng chính là lúc nghiên cứu đến vấn đề này một cách nghiêm túc. Tiến bộ của khoa học, trong đó các nghiên cứu về sự sống của tế bào, gien ảnh hưởng đến đời sống của con người không còn nằm trong phòng thí nghiệm mà đã ứng dụng vào cuộc sống làm thay đổi cuộc sống của con người. Từ nghiên cứu của nhà khoa học Pháp Pastuer về bệnh dịch học, vi trùng học, trong đó nghiên cứu vi khuẩn tại các phòng thí nghiệm (các nông trại) là tác nhân của nhiều bệnh. Khám phá này của ông thay đổi, cái nhìn về khoa học hành vi của con người, trong vấn đề vệ sinh, như vậy một nghiên cứu đã được ứng dụng và làm thay đổi cuộc sống và hành vi của con người. Các công trình nghiên cứu của Pastuer đã mở đường cho nhiều sinh viên và các nhà khoa học khác tìm kiếm các vi trùng tại các phạm vi khác nhau. Trên những vấn đề này, chính là tiền đề cho những nghiên cứu về Nhân học – Y tế hay còn được gọi là “Khoa học về sự sống” hay “Nhân Y sinh”.

Với sự tương tác của khoa học với xã hội, từ đó hình thành nên mạng lưới trao đổi khoa học trong nghiên cứu hiện nay tại Châu Á. Đó chính là nhiệm vụ của các nghiên cứu về Nhân – Y sinh là việc xây dựng nên các mạng lưới trao đổi tri thức giữa bác sỹ, dược sỹ, các bác sỹ để mang lại nhiều tiến bộ cho xã hội, cải thiện cuộc sống như thế nào (thể chế, vật chất, văn hóa – cách thức người ta trao đổi như thế nào). Dự án nghiên cứu này xuyên biên giới – trường đại học, viện nghiên cứu; xuyên văn hóa – nghiên cứu tại các địa điểm Huế, TP.HCM; xuyên quốc gia – nghiên cứu tại Việt Nam và các quốc gia khác, liên quan đến sức khỏe, chăm sóc sức khỏe hay cách khác là các bảo vệ con người, cuộc sống của con người. Còn lý do tại sao chọn Châu Á để nghiên cứu Nhân- Y sinh nhất là các quốc gia lớn ở Ấn Độ, Trung Quốc, có nhiều nguyên nhân, trong đó đây là các quốc gia lớn, có dân số lớn và nó trở thành lợi thế so sánh về mặt kinh tế giữa các quốc gia, ngoài ra nó còn giúp cho việc hình thành mạng lưới Y sinh.

Phương pháp và ứng dụng của Nhân học đương đại

Trong nghiên cứu về Nhân học – Y sinh của mình tại các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, TS. Marina Marouda tập trung vào nghiên cứu 4 nhóm đối tượng là Bác sỹ, Nhà quản lý, đội ngũ nhân viên, người làm việc trong chính quyền liên quan đến sức khỏe tại các bệnh viện tại Việt Nam, bằng phương pháp phỏng vấn các đối tượng trọng tâm của chủ đề nghiên cứu. Tìm hiểu mối quan hệ hợp tác quốc tế của các tổ chức, các thể chế của các công ty, cơ quan trong nghiên cứu về Y sinh, đặc biệt là các nghiên cứu về tế bào gốc giữa các quốc gia, tổ chức như thế nào. Các nghiên cứu Y sinh hiện nay được nhiều quốc gia tiếp cận, đáng chú ý là Ấn Độ, Trung Quốc. Các tiến bộ về kỹ thuật khoa học Y sinh gắn liền với sự phát triển kinh tế của các quốc gia nay, hơn nữa ứng dụng các nghiên cứu Y sinh này với Châu Âu đang được đẩy mạnh và là cơ hội để các quốc gia này hợp tác (ứng dụng vào cuộc sống) nghiên cứu với nhau. 

Làm sao nghiên cứu thực hành nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc như thế nào theo kiểu nhân học. Nghiên cứu này không thể thực hiện theo kiểu nghiên cứu nhân học cổ điển (xuống cộng đồng, cùng ăn, cùng ở cùng làm một thời gian dài), nên nó khác ở phương pháp dân tộc học cổ điển đó là sự tương tác với nhiều thành phần xã hội hơn.

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp chính được thực hiện trong nghiên cứu này. Nghiên cứu này có thể được gọi là nghiên cứu với “tổ chức, cơ quan” hay “trong tổ chức, cơ quan”. Tuy nhiên, phương pháp này cũng gặp phải những khó khăn là không làm được khi theo chân họ để quan sát, do thời gian đặc thù của bác sỹ và bệnh nhân, hay các điều kiện vật chất khác nên chỉ có thể thực hiện phỏng vấn mà không quan sát được. Ngoài ra, khi thực hiện nghiên cứu này, TS. Marina Marouda cũng thu thập thêm thông tin dữ liệu của các bệnh viên; từ các website; các mục quảng cáo liên quan; tờ rơi (các tổ chức, phòng thí nghiệm cần người tham gia, thì sẽ dán tờ rơi và có thông tin để người tham gia có thể liên lạc), đây là một cách mang lại thông tin để thu thập, để có thêm thông tin đa chiều hơn. Nhân học có thể thực hiện nghiên cứu theo cách thu thập dữ liệu theo các kênh trên dưới cái nhìn của nhà nhân học để tìm ra các vấn đề nghiên cứu như việc tìm hiểu cách thức tổ chức nghiên cứu tế bào gốc giới thiệu nghiên cứu của họ với bệnh nhân, ra bên ngoài, hay quan điểm, chính sách của nhà nước về lĩnh vực tế bào gốc như thế nào, những hỗ trợ của nhà nước với lĩnh vực này tồn tại và phát triển trong xã hội như thế nào, đó chính là cách tiếp cận mà Nhân học có thể thực hiện một cách tốt nhất.


TS. Marina Marouda trình bày nghiên cứu của cô tại Việt Nam. Ảnh: Việt Thành

Tại sao lại nghiên cứu loại hình này và việc sử dụng kết quả đó như thế nào

TS. Marina Marouda tìm hiểu tri thức và ứng dụng tri thức của lĩnh vực tế bào gốc được sản sinh ra như thế nào? Đưa vào ứng dụng ra sao và việc hợp tác mạng lưới liên kết hình thành? Việc hình thành các mạng lưới giúp ứng dụng, đưa các tri thức nghiên cứu vào trong nghiên cứu ứng dụng như thế nào? Trí thức của ngành tế bào gốc ảnh hưởng đến xã hội như thế nào hoặc là tái định việc nghiên cứu tế bào gốc trong xã hội như thế nào? Cũng như việc xây dựng lại các chính sách sức khỏe của nhà nước đối với người dân địa phương, giúp cho chính phủ hiểu được các mong muốn của người dân trong việc chăm sóc sức khỏe, để có chính sách phù hợp.

Nghiên cứu Nhân học mang lại tiếng nói kỳ vọng của cá nhân, cộng đồng như thế nào là sống tốt ra bên ngoài cộng đồng. Nghiên cứu Nhân học đóng góp vào nghiên cứu, giúp định hình chính sách y tế cho người dân phù hợp và tốt hơn. Kết quả nghiên cứu còn là dữ liệu cho các báo cáo khoa học, bài báo nghiên cứu về thực hành nghiên cứu tế báo gốc ở Việt Nam như thế nào. 

Báo cáo này còn được gửi đến các nhà nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc giúp hiểu rõ hơn về mạng lưới hợp tác; tổ chức các buổi tọa đàm trao đổi tại Anh và Việt Nam, mời các nhà nghiên cứu, ứng dụng hiểu được mạng lưới hợp tác, các nghiên cứu tế bào gốc ở Việt Nam, tạo thành mạng lưới trao đổi nghiên cứu, đó là một trong mục đích của nghiên cứu này. Đó là cách thức chúng ta phổ biến cách thức các nghiên cứu của chúng ra và đưa nó ra bên ngoài, giúp cho nghiên cứu Nhân học và của tác giả có những đóng góp cho xã hội. Nhân học và Y học có sự hỗ trợ lẫn nhau, như việc nhân học nghiên cứu thực hành ý học, xem nó tác động như thế, phản ánh lại cho các nhà nghiên cứu Y học hiểu rõ, điều chỉnh cho phù hợp, Nhân học trở thành cầu nối giữa Y học và cộng đồng.

Tại buổi tọa đàm, TS. Marina Marouda cũng nhận được nhiều câu hỏi của các sinh viên về ứng dụng và đóng góp của Nhân học đến xã hội, mang lại tiếng nói hay sự kỳ vọng của người dân về các chính sách về một cuộc sống được tốt hơn. Ngoài ra, TS. Marina Marouda còn nhấn mạnh đến cá tính của người nghiên cứu, có thể là một công cụ quan trọng để lấy thông tin trong nghiên cứu Nhân học. Ngoài ra, việc bổ sung các kiến thức về Y học trong nghiên cứu Nhân học cũng được TS. Marina Marouda chia sẻ tận tình. Ngoài ra, việc chia sẻ các nghiên cứu tại Việt Nam của TS. Marina Marouda còn chỉ ra mối quan hệ xã hội của các nhân trong mối quan hệ tương tác với các nhóm khác, xây dựng mạng lưới nghiên cứu và chia sẻ kết quả nghiên cứu với các nhóm khác cũng mang lại sự phản biện xã hội sâu sắc trong bối cảnh xã hội đặc thù. 


TS. Marina Marouda nhận hoa từ PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân. Ảnh: Việt Thành


TS. Marina Marouda chụp hình lưu niệm. Ảnh: Việt Thành

Tiểu sử của TS. Marina Marouda

TS. Marina Marouda nhận bằng Tiến sĩ về Nhân chủng học tại đại học Edinburgh (2009). Trước khi đến làm việc tại đại học Sussex, cô nhận học bổng nghiên cứu sau tiến sĩ của tổ chức SOAS, đại học London (ESRC fellowship) và của IIAS (International Institute for Asian Studies, Leiden). TS. Marina Marouda nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tang lễ, thân tộc và chính trị đương đại của Việt Nam. Luận án của TS với tựa đề “Sự kết nối mật thiết của cuộc sống: sự sống và cái chết ở miền Trung Việt Nam đương đại". Luận án này giúp TS. Marina đã nhận được một giải thưởng của Viện Nhân học Hoàng gia (Sutasoma). Hiện TS. Marina Marouda đang thực hiện nghiên cứu sau tiến sĩ về việc tái lập hiện trạng di sản của hoàng gia Việt Nam, được tài trợ bởi Đại học Cambridge và ASEASUK.

Lĩnh vực quan tâm nghiên cứu: Cái chết; tôn giáo và nghi lễ; thân tộc và xã hội tính; dân tộc học của nhà nước; đời sống xã hội, quản trị và khoa học kỹ thuật; nghiên cứu xã hội của y sinh học; văn hóa vật chất; Việt Nam; Đông Nam Á; Đông Á…

Đã xuất bản:
(1) 2013. ‘The unending death of an immortal: the state commemoration of Hồ Chí Minh in contemporary Việt Nam’. South East Asia Research 22 (1), pp 303-321.
(2) 2014. ‘Potent rituals and the royal dead: historical transformations in Vietnamese ritual practice’ Journal of Southeast Asian Studies, volume 45, issue 03, pp. 338-362.
(3) 2014. 'Ghostly Trade: Morality, Markets and the Unfortunate Dead in Contemporary Viet Nam'. Paper presented at ASA Decennial Conference (Edinburgh, June 2014)
Role
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.